NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU – DI SẢN BẤT HỦ CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM
Năm 1965, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới và quyết định kỉ niệm 200 năm ngày sinh của ông. Nhân dịp kỉ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 2025), xin trân trọng giới thiệu đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều, như một lời tri ân sâu sắc đối với người đã góp phần làm rạng danh nền văn học Việt Nam.


Nguyễn Du (1765- 1820), tên chữ Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh tại phường Bích Câu – Thăng Long, trong một gia đình nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh, có truyền thống yêu chuộng văn chương nghệ thuật. Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, sinh tạị làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh (nay là xã Tiên Điền, tỉnh Hả Tĩnh), Dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền rất nổi tiếng. Dân trong vùng có câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống (núi Hồng) hết cây/Sông Rum (sông Lam) hết nước, họ này hết quan”. Nguyễn Du sớm bộc lộ năng khiếu văn chương, có điều kiện tiếp nhận vốn tri thức sâu rộng về văn chương sách sử. Mẹ ông là Trần Thị Tần, quê Bắc Ninh cũ. Vùng đất này giàu truyền thống văn hóa, là cái nôi của những làn điệu dân ca quan họ.
Nguyễn Du sinh ra và trải qua những năm tháng niên thiếu ở Thăng Long, từng nếm trải cuộc sống quyền quý của tầng lớp quý tộc. Song biến động gia đình và thời cuộc đã sớm chấm dứt quãng đời ấy: mười tuổi mồ côi cha, mười hai tuổi mồ côi mẹ. Những biến cố lịch sử cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX đã đẩy ông vào cuộc sống lưu lạc nhiều năm trong dân gian, từng nương nhờ nhà anh vợ ở Thái Bình rồi trở về Hà Tĩnh. Chính những năm tháng phiêu bạt ấy giúp Nguyễn Du hiểu sâu sắc đời sống nhân dân, thấm thía nỗi đau thân phận con người, tích lũy vốn sống và ngôn ngữ dân gian phong phú – nền tảng quan trọng làm nên thiên tài văn học Nguyễn Du và những chuyển biến lớn trong tư tưởng sáng tác của ông.
Năm 1802, theo lệnh vua Gia Long, Nguyễn Du bất đắc dĩ ra làm quan cho triều Nguyễn. Dù con đường quan lộ tương đối hanh thông, ông vẫn không mặn mà với chốn quan trường, nhiều lần xin cáo quan về quê. Năm 1813, ông được triệu vào kinh, thăng chức Cần Chánh Đại học sĩ và cử đi sứ Trung Quốc. Chuyến đi này mang lại cho Nguyễn Du những trải nghiệm sâu rộng về đất nước, con người và văn hóa Trung Hoa, để lại dấu ấn rõ nét trong sáng tác, góp phần nâng tầm tư tưởng nhân sinh và giá trị khái quát về xã hội, thân phận con người. Năm 1820, khi được cử đi sứ lần thứ hai, Nguyễn Du qua đời tại kinh thành Huế, để lại một di sản văn học bất hủ cho dân tộc.
Nguyễn Du đã để lại sự nghiệp văn học phong phú bao gồm ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tập ngâm, Bắc hành tạp lục(tổng cộng 243 bài). Ngoài ra Nguyễn Du còn có sáng tác chữ Nôm, tiêu biểu là Văn chiêu hồn và Truyện Kiều. Tác phẩm của Nguyễn Du có giá trị sâu sắc với những nét mới mẻ về nội dung và nghệ thuật. Nhà thơ thể hiện niềm thương cảm với số phận đau khổ của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Qua tác phẩm của mình, ông tố cáo những thủ đoạn tàn nhẫn của những kẻ bạo tàn, lên án mạnh mẽ thế lực đồng tiền đã chà đạp lên nhân phẩm của con người; đề cao vẻ đẹp hình thức, tâm hồn; khẳng định tài năng và những khát vọng chân chính của con người.

Bản Kiều in từ bản khắc năm 1866; cuốn Truyện Kiều viết theo lối thư pháp (độc bản); thư pháp Truyện Kiều dài nhất Việt Nam (độc bản); bộ sưu tập Truyện Kiều xuất bản bằng các thứ tiếng và sưu tập sách viết về Nguyễn Du...
Truyện Kiều là kiệt tác tiêu biểu nhất trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Du, kết tinh tài năng và tư tưởng lớn của đại thi hào dân tộc. Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm hoàn toàn mới, mang đậm giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa Việt Nam. Tác phẩm xoay quanh số phận bi kịch của Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn, giàu hiếu nghĩa nhưng phải chịu chuỗi bất hạnh khôn cùng. Truyện Kiều có giá trị hiện thực ở chỗ đã phản ánh hiện thực về xã hội phong kiến bất công tàn bạo. Thông qua vận mệnh của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã phản ánh vận mệnh của con người nói chung trong xã hội ấy. Sự tái hiện hiện thực cuộc sống hết sức trung thực đã đem lại giá trị hiện thực lớn cho tác phẩm.


Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều thể hiện ở chỗ, nhà thơ đã bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận của người phụ nữ tài sắc mà bất hạnh. Ông tố cáo những thủ đoạn tàn nhẫn của kẻ bạo tàn, lên án mạnh mẽ thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân phẩm của con người. Thông qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du còn đề cao vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp tâm hồn, khẳng định tài năng và những khát vọng chân chính của con người thời đại.

Ấn bản "Truyện Kiều" do họa sĩ Nguyễn Công Hoan minh họa.
Nghệ thuật Truyện Kiều đạt đến trình độ mẫu mực, góp phần làm nên giá trị bền vững của tác phẩm trong lịch sử văn học dân tộc. Thành công nổi bật trước hết ở ngôn ngữ và thể loại: ngôn ngữ trong sáng, giàu sức biểu đạt và biểu cảm, được Nguyễn Du vận dụng tài tình qua sự kết hợp hài hòa giữa từ thuần Việt, Hán Việt, điển tích điển cố và các biện pháp tu từ. Cách kể chuyện linh hoạt với nhiều hình thức trần thuật – lời nhân vật, lời tác giả và lời nửa trực tiếp – đã tạo nên chiều sâu cảm xúc và tính đa thanh cho tác phẩm. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đạt đến đỉnh cao qua độc thoại nội tâm tinh tế và bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, khiến nhân vật hiện lên sống động, có chiều sâu nhân bản. Dù thuộc thể loại tự sự, Truyện Kiều vẫn thấm đẫm chất trữ tình; thể thơ lục bát được nâng lên tầm nghệ thuật mẫu mực, mượt mà, uyển chuyển, góp phần khẳng định vị trí kiệt tác của tác phẩm trong kho tàng văn học Việt Nam.
Với những thành công về cả nội dung nghệ thuật như đã nói, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được đánh giá là kiệt tác của thể loại truyện thơ Nôm trung đại Việt Nam. Chính từ giá trị bền vững ấy, bước sang bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu đặt ra cho thế hệ ngày nay không chỉ là trân trọng, ngợi ca mà còn phải tiếp tục phát huy di sản của Đại thi hào Nguyễn Du như một nguồn lực văn hóa – tinh thần quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước. Di sản của ông không chỉ góp phần định hình chuẩn mực ngôn ngữ, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn bồi đắp hệ giá trị nhân văn, nhân đạo, nuôi dưỡng tâm hồn và phẩm chất con người Việt Nam hôm nay và mai sau.
(Bài viết nhóm Văn - THPT Thủy Sơn)